Hiện có 14 khách Trực tuyến
|
|
HỌP THÀNH VIÊN MẠNG LƯỚI HIỆP ƯỚC TOÀN CẦU VIỆT NAM (GCVN) |
|
|
|
|
Viết bởi Administrator
|
|
Thứ năm, 29 Tháng 10 2009 06:03 |
|
Mạng lưới Hiệp ước toàn cầu Liên hiệp quốc là một khuôn khổ hoạt động cụ thể nhằm khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tích cực tham gia vào các vấn đề phát triển kinh tế và xã hội. Đây cũng là sáng kiến Công dân doanh nghiệp tình nguyện lớn nhất thế giới, đã thu hút trên thành viên từ 130 quốc gia bao gồm 7000 tổ chức Phi chính phủ, công đoàn và hơn 5000 doanh nghiệp. Sứ mệnh của Hiệp ước toàn cầu Liên hiệp quốc là: Đẩy mạnh việc triển khai 10 nguyên tắc trong 4 lĩnh vực: Quyền con người, Tiêu chuẩn lao động, Môi trường và Chống tham nhũng; Khuyến khích hành vi kinh doanh có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội, mối quan hệ hợp tác năng động sáng tạo và các hoạt động từ thiện; Góp phần thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs). Tham khảo thông tin tại trang web http://www.unglobalcompact.org. Mạng lưới Hiệp ước toàn cầu tại Việt Nam được thành lập từ năm 1997, đến nay đã có 21 thành viên chính thức. Viện Kinh tế Sinh thái gia nhập từ tháng 5 năm 2009. Nhằm xác định rõ mục tiêu cho hoạt động sắp tới và thành lập diễn đàn đa bên để phát triển các giải pháp thích hợp giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện cũng như tăng cường hiểu biết về Hiệp ước toàn cầu và các thành viên GCNV, mạng lưới đã tổ chức cuộc họp thành viên lần thứ nhất vào ngày 20 tháng 8 năm 2009 tại khách sạn Sheraton Hà Nội. Tham dự cuộc họp bao gồm đại diện các công ty/đơn vị có trụ sở tại Việt Nam là thành viên của Mạng lưới Hiệp uớc Toàn cầu Việt Nam (GCNV) hoặc Hiệp uớc Toàn cầu thế giới. Mở đầu cuộc họp, ông Đoàn Duy Khương, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kiêm Giám đốc dự án quốc gia thay mặt Ban Lãnh đạo tuyên bố khai mạc cuộc họp và bày tỏ cam kết của VCCI trong việc thiết lập cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp lâu dài nhằm đạt được hoạt động doanh nghiệp bền vững. Tiếp theo, bà Setsuko Yamazaki, Giám đốc Quốc gia UNDP, trình bày với các thành viên tham gia cuộc họp ví dụ về Marks & Spencers, doanh nghiệp đã chứng minh được CSR (Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp) là một quyết định mang tính chiến lược, cung cấp các dịch vụ và hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành hoạt động của họ một cách thông minh. Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Giám đốc dự án quốc gia trình bày tổng quan về GCNV và Dự án CBC-CSR, nhấn mạnh giá trị của việc chia sẻ kinh nghiệm từ 89 mạng lưới trên thế giới. Ông Phạm Hoàng Hải, Giám đốc dự án đã tóm lược cơ sở của dự án và nhấn mạnh mục tiêu dự án là trở thành mạng lưới CSR tốt nhất tại Việt Nam. Ngoài ra, các thành viên cũng chia sẻ kinh nghiệm của mình. Bà Hoàng Thị Phương từ Công ty Talisman Energy cung cấp thông tin tổng quan về các hoạt động tối ưu nhất của công ty tại Việt Nam và trên phạm vi thế giới. Bà đặc biệt nhấn mạnh cam kết của Talisman về vấn đề minh bạch và bảo vệ môi trường. Talisman ý thức được những bê bối ảnh hưởng tới các doanh nghiệp, vì vậy họ muốn ủng hộ mạng lưới này. Ông Jake Brunner, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tại Việt Nam, chuyên viên điều phối chương trình, chia sẻ dự định mở rộng quan hệ cộng tác với khối doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt với các tổ chức phi chính phủ cũng như khối doanh nghiệp tư nhân, nơi họ có thể tạo được sự khác biệt. Ông cũng xem xét cơ sở đầu tư vốn vào hiệp trợ và tài sản hiện hữu trong thời kỳ khủng hoảng. Ông Đặng Công Thắng, Giám đốc doanh nghiệp Hà Linh thì giải thích quản trị doanh nghiệp là lý do nằm sau các hoạt động CSR. Hà Linh đã chuyển đổi quy tắc CSR cho doanh nghiệp mình về dạng đơn giản và quản lý giảm thiểu rủi ro cũng như tăng uy tín công ty. Ông Thắng tin tưởng rằng trở thành thành viên của mạng lưới có nghĩa là làm gia tăng cơ hội cho công ty của ông. Ông Dave Grealy, Giám đốc Tư vấn Công nghệ cho biết Trung tâm phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên CSDNR quyết định gia nhập Hiệp ước Toàn cầu vì đây là giải pháp toàn diện và đơn giản hỗ trợ hoạt động kinh doanh có trách nhiệm. Họ cũng yêu cầu Hiệp ước Toàn cầu duy trì cho các thành viên của mình cả về mặt chính sách và thực hiện trên các cấp khác nhau của chính phủ. Các thành viên tham dự cuộc họp đã nhận biết được tầm quan trọng về tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực Môi truờng và Chống tham nhũng; Vai trò của chính phủ, ở cả cấp độ quốc gia và địa phương; Các tổ chức phi chính phủ; Đối thoại đa bên; Sử dụng Hiệp ước Toàn cầu để tăng hiệu quả hình ảnh các thành viên; Đầu tư có trách nhiệm; Quản lý đào tạo có trách nhiệm. Các thành viên yêu cầu Mạng lưới: Tạo điều kiện cho các thành viên hoạt động; Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia lập kế hoạch hoạt động của mạng luới; Cung cấp diễn đàn trao đổi thành công và thách thức; Đảm bảo việc chính phủ tham gia thảo luận và tham vấn chính phủ trong việc yêu cầu thực hiện hiệu quả hơn; Cung cấp các ví dụ thực tiễn và ví dụ cụ thể ở Việt Nam cũng như chia sẻ cách thức thực hiện tốt nhất; Đầu tư vốn nhưng không trùng lặp; Các thành viên tham gia đề xuất nhiệm vụ, sứ mệnh và kế hoạch hành động của Mạng lưới. Cuộc họp cũng thống nhất thay đổi tuyên bố nhiệm vụ của GCVN thành: Mạng lưới Hiệp uớc Toàn cầu Việt Nam là nơi liên kết các doanh nghiệp, chính phủ, công đoàn và các tổ chức phi chính phủ. Mạng lưới này tồn tại nhằm thúc đẩy, cải thiện điều kiện làm việc và môi trường của công nhân Việt Nam thông qua việc thực hiện Hiệp ước Toàn cầu. Mục tiêu quan trọng của Mạng lưới là trở thành cơ quan quốc gia tối cao về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xác định, dự đoán và giảm thiểu căng thẳng giữa hoạt động kinh doanh với cộng đồng, kinh doanh với môi trường, kinh doanh với khách hàng, kinh doanh với chính phủ nhằm hướng tới kinh doanh ổn định trong một xã hội vững mạnh. Một số kết quả thảo luận để đóng góp cho mạng lưới xây dựng kế hoạch hoạt động, tập trung vào các nội dung như sau: - Tiến hành nghiên cứu nền tảng và thuyết trình kết quả tới các thành viên tại cuộc họp - Liên kết các tổ chức theo thành phần kinh tế - Sử dụng các thành viên tham gia mạng lưới làm đại sứ - Quảng bá nhiều hơn về Hiệp uớc Toàn cầu tại Việt Nam Các thành viên tham gia đánh giá cuộc họp có hiệu quả tích cực, đã cung cấp các điển hình hoạt động thực tiễn có hiệu quả của các công ty và tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, Mạng lưới có nền tảng tốt để đẩy mạnh hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất cuộc họp tiếp theo tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 6 tháng tới tại địa điểm phù hợp. Ban điều hành tổng hợp các ý kiến đóng góp và quan sát từ cuộc họp để lập kế hoạch hoạt động trong tương lai, đồng thời nhanh chóng gửi tới các thành viên bản Kế hoạch hoạt động của dự án. Hoàng Lan |
|
Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 29 Tháng 10 2009 06:37 )
|
|
|
KHÁI NIỆM BẢO TỒN NGUỒN GEN ĐỘNG CHO HỆ SINH THÁI RỪNG |
|
|
|
|
Viết bởi Đỗ Văn Ngọc
|
|
Thứ năm, 15 Tháng 10 2009 03:07 |
Đỗ Văn Ngọc-VQG Bidoup-Núi Bà Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH. Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu. Tuy nhiên, hầu hết những chương trình về bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn nguồn gen nói riêng hiện nay đều dựa trên ý niệm thông lệ rằng “sự phù hợp tối ưu đã đạt được trong tự nhiên”. Điều này đã dẫn đến việc xây dựng mục tiêu bảo tồn cho một loài nào đó đều được dựa trên cấu trúc di truyền hiện có của loài (Pliura, 2003). Trong thực tế cấu trúc về gen của một loài luôn thay đổi dưới tác động liên tục của các yếu tố tiến hóa và sự phù hợp tối ưu sẽ không bao giờ có thể đạt được trong bất kỳ một quần thể thực vật nào (Eriksson và cộng sự, 1993). Thêm vào đó, dưới tác động của tự nhiên và con người, môi trường sống của các loài cây đang thay đổi một cách nhanh chóng, vì vậy điều quan trọng trong việc phát triển các chiến lược bảo tồn nguồn gen là không chỉ bảo tồn những khác biệt di truyền hiện tại mà còn tạo ra những điều kiện để nâng cao khả năng thích nghi và quá trình tiến hóa của loài trong tương lai. Khái niệm “bảo tồn nguồn gen động” được đề ra đầu tiên cho việc cải thiện giống cây rừng bởi giáo sư Gene Namkoong vào năm 1976, sau đó được mở rộng để kết hợp việc cải thiện giống với việc bảo tồn nguồn gen cây rừng (Eriksson và cộng sự, 1993). Khái niệm này là nền tảng lý luận quan trọng cho việc phát triển những chiến lược bảo tồn nguồn gen cây rừng nhằm nâng cao tính khác biệt về gen của các cá thể trong cùng một quần thể và giữa các quần thể khác nhau trong cùng một loài; qua đó tăng cường khả năng thích nghi của loài dưới các điều kiện môi trường khác nhau, và có thể sử dụng tính đa dạng di truyền này cho các chương trình chọn giống, phục vụ cho những đòi hỏi ngày càng đa dạng những sản phẩm từ rừng của con người trong tương lai. 1. Cơ sở lý luận của khái niệm Cơ sở cho việc phát triển khái niệm bảo tồn nguồn gen động, như đã được phân tích bởi Eriksson và cộng sự (1993), là “sự phù hợp tối ưu cho tất cả những tính trạng sẽ không bao giờ đạt được trong bất kì một quần thể thực vật nào trong tự nhiên”. Dưới những tác động liên tục của những điều kiện thay đổi của môi trường sống, do các quá trình gen xuất hiện trong phạm vi quần thể và giữa các quần thể với nhau, cấu trúc gen của một loài cây luôn luôn biến động và sự khác biệt về gen trong một quần thể là luôn luôn tồn tại (Eriksson và cộng sự, 1993). Vì vậy, nếu các quần thể của một loài nào đó được áp đặt dưới những áp lực chọn lọc (tự nhiên hay nhân tạo) khác nhau thì những đặc tính thích nghi khác nhau có thể được hình thành và tính khác biệt di truyền của loài có thể được nâng cao (Hình 1). Việc hình thành những đặc điểm thích nghi dưới những áp lực môi trường khác nhau sẽ giúp cho loài nâng cao khả năng tồn tại của nó dưới sự thay đổi nhanh chóng của những điều kiện môi trường, đặc biệt với sự nóng lên của môi trường toàn cầu hiện nay. Hơn nữa, sự khác biệt về mặt di truyền của loài còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho quá trình chọn lọc trong các chương trình cải thiện nguồn gen của lâm nghiệp rừng trồng trong tương lai. Hình 1: Những đặc tính thích nghi khác nhau và tính khác biệt di truyền của loài 2. Nội dung và những ưu điểm của bảo tồn nguồn gen động Nội dung cốt lõi của khái niệm bảo tồn nguồn gen động là sự thành lập một Hệ Thống Gây Giống Đa Quần Thể (Multiple Population Breeding System), trong đó một quần thể bảo tồn nguồn gen của một loài sẽ được phân chia ra thành 10 đến 20 quần thể phụ; số lượng cá thể hiệu quả trong một quần thể phụ khoảng 50 cá thể tương đối khác biệt về mặt kiểu gen (những cá thể xa nhau về mặt địa lý), tạo ra một quần thể bảo tồn nguồn gen khoảng 500-1000 cá thể (Eriksson và cộng sự, 1993). Các quần thể phụ này có thể được thành lập trong những điều kiện môi trường khác nhau bên ngoài phạm vi phân bố hiện tại của chúng. Với số lượng cá thể hiệu quả là 50 cá thể trong một quần thể phụ, tỉ lệ mất đi của những biến động của gen cộng tính là 1% trên một thế hệ (Hình 2) - một tỉ lệ thấp thỏa mãn được trong di truyền học cây rừng (Pliura, 2003). Hình 2: Tỉ lệ mất những biến động cộng tính theo kích thước quần thể và số thế hệ (Pliura, 2003:5) Việc hình thành Hệ thống gây giống Đa quần thể trong chiến lược bảo tồn (conservation) vượt lên khái niệm bảo quản (preservation) nguồn gen cây rừng. Đây là một quá trình động, trong đó quá trình tiến hóa của loài được khuyến khích một cách chủ động nhằm phát sinh một cách tích cực các khác biệt về gen của quần thể. Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng tồn tại của loài dưới các môi trường sống khác nhau và những khác biệt di truyền giữa các quần thể phụ này có thể được sử dụng như những nguồn vật liệu quan trọng cho các chương trình cải thiện nguồn gen trong các chương trình trồng rừng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng cho nhu cầu ngày càng đa dạng của con người. Tuy nhiên, rõ ràng chi phí cho chiến lược bảo tồn nguồn gen động sẽ là cao hơn nhiều so với các phương pháp bảo tồn khác như in situ và ex situ. Phương pháp này cũng đòi hỏi nguồn nhân lực với trình độ quản lý và những hiểu biết về di truyền học cây rừng cao hơn so với cách tiếp cận bảo tồn khác hiện nay. Vì vậy nó nên được cân nhắc áp dụng cho những loài cây có giá trị cao về kinh tế và khoa học. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Eriksson, G., Namkoong, G. and Roberds, J.H., 1993. Bảo tồn nguồn gen động cho tương lai không chắc chắn, Tạp chí Quản lý và Sinh thái Rừng, Số 62: Trang 15-37. 2. Pliura, A., 2003. Chiến lược bảo tồn nguồn gen cho loài cây Ash (Fraxius spp.). Có từ . (Truy cập vào ngày 8/10/2003). 3. Kanowski, P. and Boshier, D., 1997. Bảo tồn nguồn gen cây in situ, trong sách Bảo tồn gen thực vật: Tiếp cận In Situ, Biên tập bởi N. Maxted, B.V. Ford-Lloyd and J.G. Hawkes, Nhà xuất bản Chapman & Hall, London, trang 207-219. 4. FAO, 2001. Tình trạng rừng thế giới, Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc, Rome. Vườn Quốc gia Bidoup- Núi Bà |
|
Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 15 Tháng 10 2009 03:13 )
|
|
Viết bởi Administrator
|
|
Chủ nhật, 21 Tháng 9 2008 16:20 |
|
Viện Kinh Tế Sinh Thái là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực phát triển, có mối quan hệ đối tác và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà Nước, các tổ chức đoàn thể, tổ chức quần chúng, các cơ quan đối tác khác trong nước và quốc tế, và cộng đồng người dân các địa phương. Hoạt động của Viện Kinh Tế Sinh Thái tập trung vào hỗ trợ quá trình nâng cao năng lực cho cộng đồng người dân nông thôn nghèo và nhóm người gặp khó khăn, sinh sống tại các vùng có điều kiện sinh thái kém bền vững trên phạm vi cả nước, bao gồm cả các dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em, để họ có thể quản lý tốt và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực xã hội, nhằm cải thiện kinh tế hộ gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các tiếp cận dựa vào cộng đồng, đảm bảo sự tham gia của người dân luôn dược chú trọng trong tất cả các hoạt động do Viện Kinh Tế Sinh Thái hỗ trợ. |
|
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 10 Tháng 11 2008 10:19 )
|
|
Đọc thêm...
|
|
|
Viện Kinh tế Sinh thái là tổ chức nghiên cứu dân lập, trong các vấn đề kinh tế, sinh thái và bảo vệ môi trường. Viện Kinh tế Sinh thái được thành lập theo quyết định số 07/THKH do Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (sau là Bộ Khoa học- Công nghệ và Môi trường) ký ngày 6 tháng 1 năm 1990. Từ năm 1993, Viện được tái sắp xếp về quản lý và là thành viên trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Năm 1995, Viện Kinh tế Sinh thái được phép xuất bản Tạp chí Kinh tế Sinh thái (Ecological Economy Journal) định kỳ hàng quý, phát hành phạm vi cả nước. |
|
Đọc thêm...
|
|
Một số kết quả hoạt động và Hợp tác phát triển |
|
|
|
|
Hợp tác đối nội Viện Kinh tế Sinh thái đã thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác phát triển với các cơ quan trong nước liên quan đến lĩnh vực sinh thái tài nguyên môi trường các cơ quan chức năng các Trường Đại học, các Viện và Trung tâm nghiên cứu; các Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở các tỉnh nhằm phối hợp các chương trình nghiên cứu phát triển, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, xây dựng Làng sinh thái phát triển bền vững, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học tại các vùng sinh thái khác nhau. Trong mối quan hệ giữa Kinh tế và Bảo vệ môi trường, Viện đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cán bộ địa phương và của người dân trong lĩnh vực bảo tồn, quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. |
|
Đọc thêm...
|
|
|
Tin Môi trường
 Đối với các nhà hoạch định chính sách thì những số liệu kiểm kê khí nhà kính là cơ sở để đề ra chiến lược và chính sách. Sự tăng giảm khí nhà kính liên quan mật thiết đến sử dụng nhiên liệu và vì thế tác động đến phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia..
Tin kinh tế
Giá lúa mỳ, gạo và ngô đã tăng gần gấp đôi trong năm qua. Nhưng không chỉ những mặt hàng nông sản đó tăng giá trên thị trường quốc tế...Xem chi tiết
TIN XÃ HỘI
Sáng ngày 21/9, tại Khu di tích lịch sử Lam Kinh, tỉnh Thanh Hoá long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 590 năm Khởi nghĩa Lam Sơn, 580 năm Vua Lê Thái Tổ đăng quang, 575 ngày mất của Anh hùng dân tộc Lê Lợi... Xem chi tiết
|